Hiển thị tin chuyên mục

PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC (ADVERSE DRUG REACTION – ADR)
[ Cập nhật vào ngày (24/12/2020) ]

Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction-ADR) xảy ra gần như hàng ngày trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe và có thể gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, dẫn đến bệnh tật và tử vong. Phản ứng có hại của thuốc được cho là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư, cao hơn bệnh phổi, AIDS và tai nạn giao thông.


 

PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC (ADVERSE DRUG REACTION – ADR)

            SVD. Tăng Vân Hải, Phan Dương Liên Phương, Huỳnh Xuân Thảo, Nguyễn Đình Đạm

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

 

1.      GIỚI THIỆU

Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction-ADR) xảy ra gần như hàng ngày trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe và có thể gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, dẫn đến bệnh tật và tử vong. Phản ứng có hại của thuốc được cho là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư, cao hơn bệnh phổi, AIDS và tai nạn giao thông.

Cảnh giác dược là công tác nghiên cứu các thương tổn liên quan đến thuốc và đưa ra các khuyến cáo, bao gồm việc phát hiện, đánh giá và phòng ngừa ADR. Dược sĩ đóng vai trò quan trọng trong mỗi bước của quy trình cảnh giác dược, giúp ngăn ngừa bệnh nhân trải qua các thủ tục không cần thiết hoặc dùng thuốc không chính đáng. Ngoài việc giữ gìn sự an toàn và chất lượng cuộc sống, cảnh giác dược còn tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân và các tổ chức chăm sóc sức khỏe.

2.      ĐỊNH NGHĨA

      Chương trình giám sát thuốc của tổ chức y tế thế giới đưa ra một định nghĩa về phản ứng có hại của thuốc như sau (WHO, 1972):

“ Phản ứng có hại của thuốc là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý. Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu, quá liều, lạm dụng thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu”

Phản ứng có hại của thuốc là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc bệnh , tỷ lệ tử vong , kéo dài thời gian nằm viện , giảm tuân thủ điều trị và tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân. Vì vậy, việc giám sát phản ứng có hại của thuốc đóng vai trò quan trọng nhằm giảm thiểu những nguy cơ liên quan đến thuốc trong quá trình sử dụng thuốc của người bệnh.

Phản ứng có hại của thuốc có thể dự đoán được (nghĩa là có thể kiểm soát, có thể  tránh được hoặc không) hoặc không thể dự đoán được; nó có thể xảy ra thường xuyên hoặc không thường xuyên đối với một thuốc hay nhiều thuốc mà hậu quả của nó có thể nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng. Việc phát hiện nhanh những phản ứng có hại phụ thuộc vào thời gian xử trí và công tác tổ chức hệ thống Cảnh giác Dược.

3.      PHÂN LOẠI

            Phản ứng có hại của thuốc ban đầu được phân thành hai loại: A và B. ADR loại A phụ thuộc vào liều lượng sử dụng và có thể dự đoán được; chúng là sự gia tăng của các tác dụng dược lý đã biết của thuốc. ADR loại B không phổ biến và không thể đoán trước, nó không phụ thuộc vào liều lượng và chỉ ảnh hưởng một số ít người. Phản ứng quá mẫn với thuốc là một ví dụ của ADR loại B. Phản ứng loại A được gọi là phản ứng tăng cường và phản ứng loại B được gọi là phản ứng bất thường. Có thêm bốn loại phản ứng được bổ sung vào sau này, bao gồm: phản ứng mãn tính, liên quan đến cả liều lượng và thời gian (loại C), phản ứng chậm (loại D), hội chứng ngừng thuốc (loại E) và gần đây nhất, thuốc mất hiệu lực đã trở thành loại thứ sáu (loại F)

Khoảng 80% ADR trong bệnh viện thuộc loại A. Các nhóm thuốc thường gây ra ADR ở người lớn là corticosteroid tuyến thượng thận, kháng sinh, thuốc chống đông máu, thuốc điều trị ung thư và thuốc ức chế miễn dịch, thuốc tim mạch, thuốc chống viêm không steroid và thuốc giảm đau nhóm opioid. Đối với trẻ em, nhóm thuốc phổ biến nhất là thuốc chống nhiễm trùng, thuốc hô hấp và vắc-xin.

Bảng 1 : Phân loại ADR theo tác dụng dược lý mở rộng

PHÂN LOẠI ADR THEO TÁC DỤNG DƯỢC LÝ MỞ RỘNG

Loại phản ứng

Đặc điểm

Ví dụ

Cách xử lý

A: Liên quan đến liều dùng (Tăng cường)

•Phổ biến

•Liên quan tới tác dụng dược lý của thuốc-Phóng đại đáp ứng thuốc.

•Dễ dự đoán

•Tỷ lệ tử vong thấp

•Khô miệng với thuốc chống trầm cảm ba vòng, ức chế hô hấp với opioids, chảy máu với warfarin, hội chứng serotonin với SSRI, độc tính digoxin

•Giảm liều hoặc tạm ngừng sử dụng thuốc.

•Xem xét tác động của các biện pháp điều trị đồng thời.

B: Không liên quan đến liều dùng (Bất thường)

• Không phổ biến

• Không liên quan tới tác dụng dược lý của thuốc

• Không dự đoán được

• Tỷ lệ tử vong cao

•Phản ứng miễn dịch: sốc phản vệ với penicillin

•Phản ứng do cơ địa từng người: tăng thân nhiệt ác tính với thuốc gây mê nói chung

•Ngừng ngay thuốc và tránh dùng trong tương lai.

C: Liên quan đến liều lượng và thời gian sử dụng (Mạn tính)

• Không phổ biến

• Liên quan đến liều lượng tích luỹ.

•Ức chế trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận bằng corticosteroid, thoái hóa xương hàm với bisphosphonates

•Giảm liều hoặc tạm ngừng thuốc.

•Ngừng thuốc hoàn toàn cần được thực hiện từ từ.

D: Liên quan đến thời gian (Chậm)

•Không phổ biến

•Thường liên quan đến liều dùng

•Xảy ra hoặc trở nên rõ ràng sau khi sử dụng thuốc

•Yếu tố gây ung thư

•Rối loạn vận động muộn

•Khuyết tật bẩm sinh

•Giảm bạch cầu với lomustine

•Thường khó chữa

E: Ngừng thuốc (Ngưng sử dụng)

•Không phổ biến

•Xảy ra ngay sau khi ngừng thuốc

•Hội chứng cai thuốc với thuốc phiện hoặc thuốc benzodiazepin (ví dụ, mất ngủ, lo lắng)

•Thử thách dùng lại thuốc, ngừng thuốc từ từ

F: Thuốc mất hiệu lực

•Phổ biến

•Liên quan đến liều dùng

•Có thể do tương tác thuốc

•Dùng không đủ liều thuốc tránh thai khi sử dụng với chất gây cảm ứng enzyme

•Kháng kháng sinh

•Tăng liều

•Xem xét tác động của các biện pháp điều trị đồng thời.

(SSRI selective serotonin reuptake inhibitors: thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên Serotonin)

 

 Bảng 2 : Phân loại phản ứng quá mẫn thuốn theo Gell và Comb 

PHÂN LOẠI PHẢN ỨNG QUÁ MẪN THUỐC THEO GELL VÀ COMB

PHẢN ỨNG QUÁ MẪN

CƠ CHẾ

I

Qua trung gian kháng thể (IgE)

II

Gây độc tế bào

III

Phức hợp kháng thể-thuốc lắng đọng trong mô

IV

Một phản ứng chậm xảy ra khi các phân tử thuốc được trình diện cho các tế bào đặc biệt gọi là lympho bào T, chịu trách nhiệm trung gian cho phản ứng viêm.

  

4.      YẾU TỐ NGUY CƠ

Phản ứng có hại của thuốc phổ biến hơn ở người lớn tuổi và nữ giới. Gần đây, một yếu tố quan trọng khác đã được xác định –  Các kháng nguyên bạch cầu của người (Human Leucocyte Antigen-HLA) của từng bệnh nhân. HLA là một nhóm các gen mã hóa một nhóm protein có trên bề mặt tế bào. HLA có liên quan đến việc trình diện kháng nguyên cho hệ thống miễn dịch. Những người sở hữu một số HLA nhất định có nguy cơ mắc ADR cao hơn với các loại thuốc cụ thể. [3]

 

Bảng 3 : Các yếu tố có liên quan tới phản ứng có hại của thuốc

CÁC YẾU TỐ CÓ LIÊN QUAN TỚI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

YẾU TỐ

NHÓM NGUY CƠ

THUỐC

Tuổi

• Người già từ 60 tuổi trở lên

• Nhiều loại

Giới tính

• Nữ giới

• Nhiều loại

HLA

• HLA-DQw2

• HLA-B7,D22,D23

• HLA-B*5701

• HLA-B*1502

• HLA-B*5802

• HLA-DR9

• Aspirin

• Insulin

• Abacavir

• Carbamazepine

• Allopurinol

• Penicillin

Tình trạng nhiễm trùng

• HIV

• EBV

• Cotrimoxazole

• Ampicillin

 

(HLA– human leukocyte antigen: kháng nguyên bạch cầu người; HIV-human immunodeficiency virus: virus suy giảm miễn dịch người; EBV– Epstein-Barr virus)

  

5.      BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Bảng 4 : 30 ADR phổ biến nhất liên quan đến 200 loại thuốc hàng đầu: [4]

Chóng mặt

Giảm tiểu cầu

Lo lắng

Buồn nôn

Đau bụng

Tim đập nhanh

Nhức đầu

Buồn ngủ

Run rẩy

Nôn

Dị ứng

Đau khớp

Tiêu chảy

Khó tiêu

Chán ăn

Phát ban

Nổi mề đay

Kích động

Táo bón

Khó thở

Sốc phản vệ

Mệt mỏi

Hạ huyết áp

Khô miệng

Mất ngủ

Trầm cảm

Sốt

Ngứa

Dị cảm

Rối loạn vị giác

 

 Quyết định quan trọng nhất đối với tất cả các nghi ngờ phản ứng có hại của thuốc là ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ. Ở những bệnh nhân đang sử dụng nhiều loại thuốc, quyết định ngừng thuốc phải được cân nhắc giữa nhu cầu sử dụng thuốc và khả năng gây ra tác dụng phụ quan sát được. Trong các phản ứng quá mẫn loại I hoặc phản ứng toàn thân, thuốc được lựa chọn để điều trị ADR là adrenaline, tiêm thuốc vào cơ nhanh nhất có thể. Một cách khác để đưa adrenaline vào cơ thể là tiêm tĩnh mạch, nhưng điều này chỉ được sử dụng trong các trường hợp nguy cấp, đe dọa đến tính mạng mà không đáp ứng với phương pháp tiêm vào cơ. Thuốc giãn phế quản và corticosteroid toàn thân cũng có thể được sử dụng khi điều trị các phản ứng dị ứng, nhưng không nên trì hoãn việc sử dụng adrenaline nếu cần thiết. Cần thận trọng với IV Phenergen (một loại thuốc kháng histamine) vì có thể làm kích thích tĩnh mạch.[3]

 

6.      MỘT SỐ ADR NGHIÊM TRỌNG

 Bảng 5 : Một số ADR nghiêm trọng [5]

PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

LOẠI THUỐC

VÍ DỤ

Thiếu máu (Do giảm sản xuất hoặc tăng phá huỷ hồng cầu)

Một số loại kháng sinh

Chloramphenicol

Thuốc dùng để điều trị sốt rét hoặc bệnh lao ở những người thiếu men G6PD

Chloroquine

Isoniazid

Primaquine

Phù mạch (sưng môi, lưỡi và cổ họng gây khó thở)

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin

Captopril

Enalapril

Lisinopril

Gãy xương

Thuốc ức chế bơm proton

Esomeprazole

Lansoprazole

Omeprazole

Hình thành cục máu đông

Thuốc tránh thai (tất cả các dạng bao gồm miếng dán và viên nén)

Drospirenone/ethinyl estradiol

Norelgestromin/ethinyl estradiol

Hay nhầm lẫn và uể oải

Thuốc an thần, bao gồm nhiều thuốc kháng histamine

Diphenhydramine

Thuốc chống trầm cảm (đặc biệt ở người lớn tuổi)

Amitriptyline

Imipramine

Giảm sản xuất tế bào bạch cầu, tăng nguy cơ nhiễm trùng

Một số thuốc chống loạn thần

Clozapine

Thuốc hoá trị

Cyclophosphamide

Mercaptopurine

Methotrexate

Vinblastine

Một số loại thuốc điều trị rối loạn tuyến giáp

Propylthiouracil

Gây tổn thương thận

NSAIDs (sử dụng quá liều nhiều lần)

Ibuprofen

Naproxen

Kháng sinh nhóm Aminoglycoside

Gentamicin

Tobramycin

Một số loại thuốc hoá trị

Cisplatin

Methotrexate

Thuốc trị nấm

Amphotericin B

Một số loại kháng sinh

Gentamicin

Tetracycline

Gây tổn thương gan

Một số thuốc giảm đau

Acetaminophen (dùng quá liều)

Một số thuốc điều trị lao

Isoniazid

Thuốc bổ sung sắt (số lượng nhiều)

Thuốc chống trầm cảm

Duloxetine

Kháng sinh

Tetracycline

Phá huỷ mô cơ (Tiêu cơ vân)

Statins

Atorvastatin

Simvastatin

Loét dạ dày hoặc ruột (có hoặc không chảy máu)

Thuốc chống đông máu

Heparin

Warfarin

Biphosphonate

Alendronate

Risedronate

Hoại tử thượng bì nhiễm độc

Một số loại kháng sinh

Penicillins

Quinolones

Thuốc chống co giật

Phenytoin

Valproic acid

Rối loạn nhịp tim

Thuốc chống loạn nhịp

Amiodarone

Procainamide

Sotalol

Thuốc chống loạn thần

Chlorpromazine

Haloperidol

Lithium

 

(G6PD–Glucose-6-phosphat dehydrogenase; NSAIDs– non-steroidal anti-inflammatory drugs:  Thuốc chống viêm không steroid)

  

7.      PHÒNG NGỪA PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

Trong khi một số ADR không thể dự đoán trước được (như sốc phản vệ ở bệnh nhân sau một lần tiếp xúc với kháng sinh có chứa penicillin), đa số có thể được ngăn ngừa nếu có tầm nhìn xa và sự theo dõi kỹ lưỡng.

Nhiều phản ứng có hại của thuốc có thể ngừa được, nếu tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

§  Không bao giờ kê đơn bất kỳ thuốc nào mà không có chứng cứ phù hợp với tình trạng bệnh lý của người bệnh.

§  Nếu người bệnh mang thai, cần rất hạn chế dùng thuốc.

§  Hỏi người bệnh về tiền sử dị ứng và các phản ứng có hại khác. Dị ứng mắc trước đó là một yếu tố dự đoán tin cậy về nguy cơ dị ứng với thuốc.

§  Hỏi người bệnh xem trước đó đã dùng thuốc nào chưa, kể cả những thuốc tự dù Các thuốc sử dụng trước đó cũng có thể gây tương tác thuốc nghiêm trọng và bất ngờ.

§  Tránh phối hợp thuốc không cần thiết. Hãy dùng càng ít thuốc nếu có thể.

§  Tuổi tác, các bệnh gan hoặc thận có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa và khả năng đào thải thuốc. Ở những người bệnh này, cần phải dùng liều thấp hơn bình thường.

§  Cung cấp những chỉ dẫn thật rõ ràng cả về bệnh và về cách sử dụng đúng thuốc đã kê cho người bệnh, nhất là đối với người cao tuổ

§  Khi có nguy cơ là các thuốc được kê đơn có thể gây phản ứng có hại, phải chỉ dẫn cho người bệnh về cách nhận biết các triệu chứng sớm, như vậy vấn đề phản ứng có hại có thể được điều trị sớm ở mức có thể.[6]

 

8.      ĐIỀU TRỊ

§  Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm sàng phù hợp.

§  Giảm liều hoặc ngừng thuốc nghi ngờ gây ADR trong điều kiện lâm sàng cho phé

§  Kịp thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ, đảm bảo chức năng sống còn cho người bệnh.

§  Thực hiện theo các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có liên quan nếu việc xử trí ADR thuộc phạm vi các hướng dẫn đó.

§  Trong trường hợp cần thiết, trao đổi hướng xử trí với đồng nghiệp, tổ chức hội chẩn chuyên môn, tham khảo thêm thông tin về ADR từ Dược sĩ, Đơn vị thông tin thuốc bệnh viện hoặc các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

§  Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ. [7]

 

9.      BÁO CÁO ADR

            Tầm quan trọng của việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc:

Thử nghiệm lâm sàng với một thuốc trước khi đưa ra thị trường chỉ được tiến hành trên một số lượng bệnh nhân rất ít so với lượng bệnh nhân sẽ sử dụng thuốc đó trong thực tế. Mặt khác các thử nghiệm lâm sàng thường không đánh giá trên các đối tượng bệnh nhân đặc biệt như người già, trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh nhân suy gan, suy thận…Điều đó cho thấy những thông tin về độ an toàn của một thuốc thu được từ các thử nghiệm lâm sàng là rất hạn chế, đặc biệt là thông tin về các phản ứng nghiêm trọng nhưng tần suất xảy ra thấp. Do vậy, thông tin do các cán bộ y tế cung cấp về các phản ứng có hại của thuốc sẽ vô cùng hữu ích để tiếp tục đánh giá một cách toàn diện hơn về các nguy cơ tiềm ẩn của thuốc khi lưu hành trên thị trường.

 

10.   KẾT LUẬN

 Là chuyên gia về thuốc, dược sĩ đóng một vai trò quan trọng trong nhóm điều trị, đặc biệt là khi xảy ra ADR. Điều trị ADR bao gồm chủ yếu là trị liệu hỗ trợ với quản lý triệu chứng. Phản ứng có hại của thuốc sẽ không bao giờ được loại bỏ hoàn toàn, ngay cả với các hệ thống cảnh giác dược tinh vi nhất. Nhiệm vụ của người hành nghề chăm sóc sức khỏe là giảm thiểu sự xuất hiện của ADR. Việc báo cáo ADR cho các cơ quan báo cáo quốc gia và toàn cầu, cho các nhà sản xuất thuốc và trong các tài liệu chính thức được xuất bản giúp DS trang bị kiến thức thức cho bản thân cũng như các chuyên gia y tế khác trong công tác phòng ngừa ADR. Người DS cần hiểu rõ cơ chế của ADR để ứng dụng trong việc phát triển thuốc và chăm sóc bệnh nhân.  Ngoài ra các yếu tố chủ quan của bệnh nhân như tuổi tác, giới tính, loại HLA, chức năng thận và gan cũng là những yếu tố quan trọng cần được cân nhắc trong việc lựa chọn phương pháp điều trị bằng thuốc và liều lượng phù hợp.

Nguồn:https://www.nhipcauduoclamsang.com/

 

 

 

 

 

 




admin

  In bài viết



Tìm kiếm

LỊCH KHÁM BỆNH

KHOA KHÁM BỆNH (KHÁM BHYT ĐÚNG TUYẾN)

Từ thứ hai đến thứ sáu
Sáng: 07h00 – 11h00
Chiều: 13h00 – 17h00
Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh
Số điện thoại: 0292 3 748 304

KHOA KHÁM BỆNH THU PHÍ

Thứ 2 đến Thứ 6: Làm việc 24/24, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, Tết.
Thứ 7, Chủ nhật: 
Sáng thứ 7 từ 7h đến 11h có khám BHYT đúng tuyến.
+ Thứ 7 và chủ nhật chỉ khám nội khoa và các bệnh về Mắt, Tai Mũi Họng và Răng Hàm Mặt
Địa điểm: Tầng 01
Số điện thoại: 0292 3 748 356

KHÁM VÀ TIÊM CHỦNG DỊCH VỤ

Từ thứ 2 đến thứ 6:

Sáng: 07h00 – 10h30

Chiều: 13h00 – 16h30

Thứ 7, chủ nhật, ngày lễ: Sáng: 07h00 – 10h30

Địa điểm: Tầng 01 (cạnh Khoa Chẩn đoán hình ảnh)

Số điện thoại: 02923.748.397

LỊCH KHÁM CÁC BỆNH MẠN TÍNH NGOẠI TRÚ

KHÁM TƯ VẤN DINH DƯỠNG

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần. 

Sáng: 07h00 – 11h00; Chiều: 13h00 – 17h00

Địa điểm: Tầng 02 - khoa dinh dưỡng

Khám và tư vấn các bệnh liên quan về: Suy dinh dưỡng, Béo phì, ...

Ghi chú: Vui lòng đặt lịch hẹn khám bệnh trước

Số điện thoại: 02923.748.343 - 02923.748.344

KHÁM BỆNH LÝ VỀ TIM

Sáng thứ 4 hàng tuần.   Từ 07h00 – 10h00   

Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh

Khám các bệnh về: Kawasaki; tăng huyết áp, tim bẩm sinh chưa có chỉ định can thiệp.

KHÁM NỘI TIẾT

Sáng thứ 3 hàng tuần.   Từ 07h00 – 11h00

Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh

Khám các bệnh về: Đái tháo đường, dậy thì sớm.

KHÁM THẬN - MÁU - KHỚP

Sáng thứ 5 hàng tuần.  Từ 07h00 – 11h00

Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh

Khám các bệnh về: Hội chứng thận hư; Viêm cầu thận cấp; Xuất huyết giảm tiểu cầu; Viên khớp dạng thấp thiếu niên; Lupus; Kawasaki; Henoch Scholein; Đái tháo đường.

CÁC BỆNH LÝ VỀ HEN

Chiều thứ 4 hàng tuần. Từ 13h00 – 15h00

Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh

Khám các bệnh: Hen phế quản (suyễn)

BỆNH LÝ VÕNG MẠC MẮT Ở TRẺ SƠ SINH (ROP)

Sáng thứ 4 hàng tuần. Thời gian nhận bệnh từ 7h đến 9h

Địa điểm: Tầng 02 khoa khám bệnh

Xin vui lòng liên hệ với khoa khám mắt để biết thông tin chi tiết.

Số điện thoại: 02923.748.355.

KHÁM VẬT LÝ TRỊ LIỆU + TÂM LÝ

Địa điểm: Tầng 03- khoa Vật lý trị liệu

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần.

Sáng: 07h00- 11h00; Chiều: 13h00- 17h00

Khám các bệnh lý về: Vận động, phục hồi chức năng, ...

Thứ 5: Khám tâm lý.   Chiều: 13h00- 17h00

Ghi chú: Vui lòng đặt lịch hẹn khám bệnh trước.

Số điện thoại: 02923.748.329 - 02923.748.330.

Thư viện ảnh

SƠ đồ đường đi